Tóm tắt

Bài viết tập trung nghiên cứu thực trạng thực hiện các giải pháp bán hàng và tiêu thụ sản phẩm của hộ nông dân ở các địa bàn khó khăn như Đông Bắc, Tây Bắc, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long nhằm đề xuất giải pháp thúc đẩy hoạt động bán hàng và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp của hộ nông dân. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu khảo sát 360 hộ nông dân tại bốn tỉnh (Tuyên Quang, Sơn La, Lâm Đồng và Vĩnh Long), kết hợp phương pháp thống kê mô tả và so sánh để đánh giá mức độ áp dụng các giải pháp. Kết quả cho thấy, liên kết tiêu thụ sản phẩm và ứng dụng công nghệ số là hai giải pháp được triển khai nhiều nhất, góp phần ổn định đầu ra và nâng cao thu nhập cho nông hộ. Trong khi đó, thương mại điện tử và các hoạt động marketing như xây dựng thương hiệu, bao gói, mẫu mã vẫn còn hạn chế. Đồng thời, mức độ áp dụng các giải pháp có sự khác biệt giữa các địa phương và ngành hàng, phản ánh sự chênh lệch về điều kiện sản xuất và năng lực tiếp cận thị trường. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp trọng tâm bao gồm tăng cường liên kết chuỗi giá trị, nâng cao hiệu quả hợp tác xã, thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển thương mại điện tử và cải thiện hoạt động marketing nông sản. Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp cơ sở thực tiễn và khoa học cho việc xây dựng chính sách và nâng cao hiệu quả tiêu thụ nông sản ở cấp hộ nông dân trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay.

Từ khóa: tiêu thụ nông sản; hộ nông dân; liên kết thị trường; công nghệ số; thương mại điện tử; chuỗi giá trị; marketing nông nghiệp

1.      Đặt vấn đề

Tiêu thụ nông sản quyết định trực tiếp đến thu nhập, khả năng mở rộng sản xuất và hiệu quả chuỗi giá trị của hộ nông dân; sự tham gia vào liên kết dọc hoặc ngang gia tăng lợi nhuận và hiệu quả tổng thể của chuỗi hàng hóa (Khong Tien Dung, 2022). Bên cạnh đó, sự phát triển của các nền tảng số đang mở ra nhiều cơ hội cũng như thách thức cho nông dân trong việc tiếp cận thị trường. Đó là sự phát triển của các kênh bán hàng trực tuyến trên các nền tảng mạng xã hội, thương mại điện tử, nơi mà có thể kết nối trực tiếp với các khách hàng có nhu cầu mua và sử dụng sản phẩm. Nhiều giải pháp có thể ứng dụng hỗ trợ nông dân tăng cường hiệu quả của bán hàng và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp như tăng cường liên kết dọc và ngang; thiết lập hợp đồng rõ ràng giữa hộ, hợp tác xã và doanh nghiệp; sử dụng hợp tác xã hoặc tổ chức người sản xuất làm trung gian để kết nối thị trường (Kilima & Kurwijila, 2020); phát triển chế biến và phân loại tại nguồn; đầu tư vào chế biến nhỏ, phân loại và đóng gói để nâng cao giá trị và mở cửa thị trường giá trị cao cho nông dân (Tran Nguyen Ly, 2021). Thực hiện các can thiệp nhằm cải thiện thông tin thị trường, tạo kết nối trực tiếp với doanh nghiệp chế biến và hệ thống phân phối. Trong đó, cải thiện chất lượng, phát triển sản phẩm mới và kết nối thị trường được nêu là các yếu tố then chốt để gia tăng giá trị (Kilima & Kurwijila, 2020).

Bên cạnh các mô hình liên kết giữa doanh nghiệp và người dân trong việc tiêu thụ nông sản, việc ứng dụng thương mại điện tử (TMĐT) trong tiêu thụ và bán hàng các sản phẩm nông nghiệp là xu hướng mới trong đổi mới và số hóa nông nghiệp hiện nay (Fecke et al., 2018). Nhận thấy vai trò của thương mại điện tử trong phát triển nông nghiệp, Bộ Thông tin và Truyền thông đã ra Quyết định số 1034/QĐ-BTTTT về việc phê duyệt kế hoạch hỗ trợ đưa hộ sản xuất nông nghiệp lên sàn thương mại điện tử, thúc đẩy phát triển kinh tế số trong nông nghiệp. Như vậy, bên cạnh các kênh bán hàng truyền thống, kênh bán hàng mới (TMĐT) sẽ hỗ trợ người nông dân chủ động tốt hơn trong việc giải quyết đầu ra cho nông sản. Khả năng ứng dụng các giải pháp tiêu thụ, bán hàng sản phẩm nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn và giải quyết khó khăn cho nông dân. Do đó, bài viết tập trung phân tích thực trạng áp dụng các giải pháp tiêu thụ và bán hàng các sản phẩm nông nghiệp của hộ nông dân nhằm đề xuất các giải pháp thúc đẩy tiêu thụ và bán hàng sản phẩm nông nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số.

2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

2.1 Cách tiếp cận

Nghiên cứu dựa trên cách tiếp cận về nội dung các giải pháp để đánh giá thực trạng thực hiện các giải pháp thúc đẩy bán hàng và tiêu thụ sản phẩm. Dựa trên tổng hợp các công trình nghiên cứu gần đây, các giải pháp thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp ở cấp độ hộ nông dân có thể được tiếp cận theo hướng hệ thống, nhấn mạnh vai trò của liên kết thị trường, nâng cao năng lực nội tại và ứng dụng công nghệ số. Trước hết, nhóm giải pháp liên kết thị trường, đặc biệt là tham gia hợp đồng tiêu thụ và hợp tác xã, được xem là có tác động rõ rệt nhất đến hiệu quả tiêu thụ nông sản. Các nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra rằng “hợp đồng nông nghiệp” giúp nông hộ ổn định đầu ra, giảm thiểu rủi ro biến động giá và cải thiện thu nhập thông qua việc gắn kết trực tiếp với doanh nghiệp thu mua (Ton et al., 2018). Đồng thời, việc tham gia hợp tác xã hoặc các tổ chức nông dân góp phần nâng cao khả năng tiếp cận thị trường, giảm chi phí giao dịch và tăng sức mặc cả của nông hộ nhờ lợi thế quy mô (Shiferaw et al., 2011). Tuy nhiên, hiệu quả của mô hình này phụ thuộc đáng kể vào năng lực quản trị và mức độ minh bạch của tổ chức trung gian.

Bên cạnh đó, các giải pháp nâng cao năng lực nội tại của hộ nông dân, như liên kết ngang giữa các hộ và đa dạng hóa kênh tiêu thụ, cũng đóng vai trò quan trọng. Liên kết ngang giúp khắc phục hạn chế về quy mô sản xuất nhỏ lẻ, từ đó giảm chi phí đầu vào và tăng khả năng đáp ứng yêu cầu của thị trường (Onumah et al., 2007). Trong khi đó, việc đa dạng hóa kênh bán hàng – bao gồm bán trực tiếp, thông qua doanh nghiệp, chợ truyền thống và nền tảng trực tuyến – cho phép nông hộ giảm phụ thuộc vào một kênh tiêu thụ duy nhất, đồng thời gia tăng cơ hội tiếp cận mức giá có lợi hơn (Ma et al., 2024). Những bằng chứng thực nghiệm cho thấy các hộ tham gia nhiều kênh thị trường thường đạt mức thu nhập cao và ổn định hơn so với các hộ chỉ phụ thuộc vào một kênh phân phối.

Bảng 2.1: Tổng hợp các giải pháp thúc đẩy bán hàng và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp

Giải pháp

Tài liệu tham khảo

Đánh giá hiệu quả

Tham gia hợp đồng tiêu thụ

(Ton et al., 2018)

Tăng thu nhập trong nhiều nghiên cứu ổn định đầu ra, giảm rủi ro giá

Tham gia HTX / tổ chức nông dân

(Bekele et al., 2026)

Tăng khả năng tiếp cận thị trường

Giảm chi phí giao dịch

Tăng sức mặc cả

Ứng dụng thương mại điện tử

(Morepje et al., 2024)

Mở rộng thị trường trực tiếp

Tăng giá bán (bỏ trung gian

Ứng dụng công nghệ số

(Ma et al., 2024)

Tăng năng suất & thông tin thị trường

Cải thiện quyết định bán hàng

Đa dạng hóa kênh bán (trực tiếp, chợ, doanh nghiệp, online)

(Ma et al., 2024)

Giảm rủi ro phụ thuộc 1 kênh

Tăng cơ hội giá tốt

Tác động mạnh đến thu nhập

Chủ động liên kết ngang (liên kết giữa nông dân)

(Onumah et al., 2007)

Tăng quy mô sản xuất

Giảm chi phí đầu vào

Tăng sức cạnh tranh

Nguồn: Tổng hợp của nhóm nghiên cứu

Trong bối cảnh chuyển đổi số, các giải pháp ứng dụng công nghệ, bao gồm thương mại điện tử và nông nghiệp số, ngày càng thể hiện vai trò bổ trợ quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả tiêu thụ nông sản. Thương mại điện tử giúp nông dân tiếp cận trực tiếp người tiêu dùng, qua đó rút ngắn chuỗi trung gian và cải thiện giá bán (Morepje et al., 2024). Đồng thời, các công cụ nông nghiệp số cung cấp thông tin kịp thời về thị trường, giá cả và kỹ thuật sản xuất, góp phần nâng cao năng suất và hỗ trợ ra quyết định kinh doanh hiệu quả hơn (Fabregas et al., 2019). Tuy vậy, mức độ tác động của các giải pháp này còn phụ thuộc vào khả năng tiếp cận công nghệ, trình độ kỹ năng số và điều kiện hạ tầng của từng hộ nông dân.

2.2.  Phương pháp nghiên cứu

Báo cáo phân tích thực trạng giải pháp tiêu thụ và bán hàng các sản phẩm nông nghiệp nhằm phục vụ xây dựng sổ tay hướng dẫn đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Các phương pháp được sử dụng bao gồm:

Số liệu sơ cấp: được thực hiện qua các cuộc khảo sát thực tế trong thời gian từ tháng 5 đến tháng 8 năm 2025 bằng bảng hỏi. Nội dung khảo sát liên quan tới thực trạng cách thức tiêu thụ và bán hàng các sản phẩm nông nghiệp của hộ nông dân trên các điểm khảo sát được chọn bao gồm: Tuyên Quang (Hà Giang cũ), Sơn La, Lâm Đồng (Đắk Nông cũ) và Vĩnh Long (Trà Vinh cũ) (tên địa giới hành chính tỉnh cũ). Tại mỗi tỉnh, 2 huyện được chọn, tổng số mẫu khảo sát là 90 hộ/tỉnh.

Bảng 2.2: Địa bàn và mẫu điều tra

TT

Tỉnh

Huyện (theo địa giới hành chính cũ)

Số mẫu

Điều kiện chọn mẫu

1

Tuyên Quang (Hà Giang cũ)

Bắc Quang

Yên Minh

90

 

 

Hộ có các hoạt động sản xuất nông nghiệp bao gồm: Trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản

2

Sơn La

Mộc Châu

Vân Hồ

90

3

Lâm Đồng (Đắk Nông cũ)

Đắk Song

Đắk Mil

90

4

Vĩnh Long (Trà Vinh cũ)

Cầu Kè

Châu Thành

90

 

Tổng

 

360

 

Sau khi thu thập dữ liệu, các phương pháp thống kê mô tả được sử dụng nhằm làm nổi bật thực trạng hoạt động sản xuất, bán hàng, tiêu thụ sản phẩm ở địa phương, đồng thời là làm rõ nhận thức và mức độ hiểu biết về các hình thức bán hàng thông qua thương mại điện tử của các đối tượng vùng nghiên cứu.

2. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thu thập thông tin thứ cấp về kinh doanh tiêu thụ sản phẩm nghề, nghề truyền thống ở các địa bàn khó khăn kết hợp với phát triển du lịch công đồng qua báo cáo phát triển kinh tế xã hội của các địa phương và nghiên cứu tổng hợp các thông tin từ các websites chính thống, sách báo, tạp chí, niên giám thống kê. Dữ liệu sơ cấp thực hiện tại hai huyện Bắc Quang và Yên Minh, tỉnh Hà Giang cũ (nay thuộc tỉnh Tuyên Quang) trong tháng 5 năm 2025. Mỗi huyện điều tra 45 hộ, sử dụng bảng hỏi được kết cấu sẵn. Ngoài ra, kết quả khảo sát cũng dựa trên kết quả tọa đàm với lãnh đạo cấp huyện, cấp xã và ban quản trị HTX nhằm thảo luận kỹ hơn về các nội dung liên quan tới thuận lợi, khó khăn, cơ hội, thách thức cũng như giải pháp thúc đẩy kinh doanh tiêu thụ các sản phẩm nghề, nghề truyền thống gắn với phát triển du lịch cộng đồng của người dân.

3. Thực trạng ứng dụng giải pháp bán hàng và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp của hộ nông dân

3.1 Đặc điểm các hộ khảo sát

Đặc điểm nhân khẩu – xã hội của chủ hộ tại bốn tỉnh khảo sát được phản ánh ở Bảng 3.1, cho thấy sự phân bố khá đa dạng về độ tuổi, trình độ học vấn và nghề nghiệp. Về cơ cấu tuổi, nhóm từ 40–60 chiếm tỷ lệ cao nhất (35,7%), cho thấy lực lượng chủ hộ chủ yếu là những người có nhiều kinh nghiệm sản xuất và giữ vai trò quyết định trong tổ chức hoạt động nông nghiệp. Nhóm dưới 25 tuổi chiếm tỷ lệ thấp nhất (19,5%), phản ánh xu hướng thanh niên rời nông thôn để tìm việc làm ở khu vực đô thị. Về trình độ học vấn, phần lớn chủ hộ đạt trình độ cấp 2 và cấp 3, lần lượt chiếm 43,3% và 29,2%, trong khi tỷ lệ có trình độ trung cấp, cao đẳng hoặc đại học còn thấp (7,2%). Điều này cho thấy hạn chế nhất định về kiến thức quản lý, tiếp cận công nghệ và khả năng tiếp cận thị trường của nông hộ.

Bảng 3.1: Đặc điểm chủ hộ khảo sát

ĐVT (%)

Chỉ tiêu

Tuyên Quang

(Hà Giang cũ)

Vĩnh Long (Trà Vinh cũ)

Lâm Đồng (Đắk Nông cũ)

Sơn La

Bình Quân

Tuổi

Dưới 25

25-40

40-60

Trên 60

20,5

28,4

28,6

22,5

15,5

21,5

34,5

28,5

 

23,5

26,3

25,7

24,5

 

18,5

30,5

17,5

33,5

 

19,5

26,3

27,0

27,2

 

Trình độ học vấn

Cấp 1

Cấp 2

Cấp 3

Trung cấp, cao đẳng, đại học

 

27,8

25,6

33,3

30,0

29,2

42,2

45,6

45,6

40,0

43,3

24,4

22,2

16,7

20,0

20,8

5,6

7,8

5,6

10,0

7,2

Dân tộc

Kinh

30,0

70,0

65,6

60,0

56,4

Khác

70,0

30,0

35,6

40,0

43,9

Nghề nghiệp

Thuần nông

90,0

85,6

90,0

85,6

87,8

Kiêm

10,0

15,6

10,0

14,4

12,5

Nguồn: Số liệu điều tra (2025)

Cơ cấu dân tộc có sự khác biệt rõ rệt giữa các tỉnh: Tuyên Quang (Hà Giang cũ) và Sơn La có tỷ lệ chủ hộ là người dân tộc thiểu số rất cao (70–80%), trong khi Lâm Đồng (Đắk Nông cũ) và Vĩnh Long (Trà Vinh cũ) có tỷ lệ người Kinh cao hơn. Đây là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tập quán sản xuất, khả năng liên kết và mức độ tiếp cận chính sách hỗ trợ. Về nghề nghiệp, đa số chủ hộ làm thuần nông (87,8%), cho thấy sản xuất nông nghiệp vẫn là sinh kế chính và ổn định nhất của các gia đình được khảo sát. Tỷ lệ làm nghề kiêm nhiệm chỉ chiếm 12,2%, phản ánh cơ hội việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn còn hạn chế. Sự tương đồng về cơ cấu nghề nghiệp giữa các tỉnh cũng cho thấy mô hình sản xuất nông hộ vẫn là đặc trưng chủ đạo của khu vực nông thôn. Tổng thể, đặc điểm nhân khẩu học của chủ hộ cho thấy lực lượng lao động nông thôn có kinh nghiệm sản xuất lớn nhưng còn hạn chế về trình độ học vấn và khả năng tiếp cận công nghệ, đây là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực tiêu thụ và khả năng tham gia chuỗi giá trị nông sản.

Bảng 3.2 phản ánh bức tranh tổng quan về quy mô lao động, đất đai và vốn đầu tư cho sản xuất nông nghiệp của các hộ khảo sát tại bốn tỉnh, cho thấy sự khác biệt đáng kể giữa các vùng. Quy mô lao động bình quân dao động từ 2,0 đến 2,8 người/hộ, trong đó Tuyên Quang (Hà Giang cũ) có số lao động cao nhất (2,8 người) do đặc thù sản xuất nông nghiệp kết hợp nhiều ngành nghề phụ trợ. Ngược lại, Vĩnh Long (Trà Vinh cũ) có mức thấp nhất (2,0 người), phù hợp với mô hình canh tác thâm canh lúa – dừa không đòi hỏi nhiều lao động. Tổng diện tích đất bình quân/hộ cũng có sự chênh lệch rõ rệt, cao nhất tại Sơn La (3,1 ha/hộ) nhờ lợi thế quỹ đất rộng và mô hình sản xuất nông – lâm kết hợp. Tuyên Quang (Hà Giang cũ) và Lâm Đồng (Đắk Nông cũ) có diện tích đất bình quân tương ứng 1,5 và 1,8 ha/hộ, phản ánh địa hình đồi núi xen kẽ và định hướng sản xuất cây công nghiệp dài ngày. Vĩnh Long (Trà Vinh cũ) có diện tích thấp nhất (1,2 ha/hộ), phù hợp với điều kiện đồng bằng châu thổ và mật độ dân cư cao. Diện tích đất nông nghiệp bình quân chỉ đạt khoảng 1,3 ha/hộ, cho thấy quy mô canh tác còn nhỏ lẻ ở cả bốn tỉnh. Về vốn đầu tư cho sản xuất, Lâm Đồng (Đắk Nông cũ) dẫn đầu với mức 545,6 triệu đồng/hộ, phản ánh đặc thù sản xuất cây công nghiệp đòi hỏi chi phí đầu tư lớn. Vĩnh Long (Trà Vinh cũ) và Sơn La có mức vốn trung bình tương đối (498,2 và 390 triệu/hộ), trong khi Tuyên Quang (Hà Giang cũ) thấp hơn do mô hình sản xuất còn manh mún. Sự khác biệt này cho thấy tiềm lực kinh tế, khả năng tích lũy và yêu cầu kỹ thuật của từng loại hình sản xuất ảnh hưởng trực tiếp đến mức vốn đầu tư của nông hộ. Nhìn chung, các địa phương khảo sát vẫn duy trì mô hình sản xuất quy mô nhỏ, thiếu tính tập trung, làm hạn chế khả năng mở rộng sản xuất hàng hóa và ứng dụng công nghệ tiên tiến. Vì vậy, việc phát triển các mô hình liên kết, tích tụ ruộng đất và hỗ trợ vốn tín dụng ưu đãi sẽ là những giải pháp quan trọng nhằm nâng cao năng lực sản xuất của nông dân trong thời gian tới.

Cụ thể, tổng số hộ điều tra là 90 tại mỗi địa phương, cho thấy quy mô mẫu đồng nhất giữa các vùng nghiên cứu. Số lao động bình quân trên mỗi hộ gia đình dao động từ 2,0 người ở Vĩnh Long (Trà Vinh cũ) đến 2,8 người ở Tuyên Quang (Hà Giang cũ), với mức trung bình là 2,4 người, phản ánh sự khác biệt về quy mô nhân khẩu học và cơ cấu lao động giữa các vùng. Đáng chú ý, tỷ lệ lao động nông nghiệp trên tổng số lao động bình quân hộ gia đình có sự chênh lệch không lớn, từ 70% tại Vĩnh Long (Trà Vinh cũ) và trung bình toàn mẫu đến 90% tại Tuyên Quang (Hà Giang cũ), điều này cho thấy mức độ phụ thuộc vào hoạt động nông nghiệp khác nhau giữa các khu vực. Bên cạnh đó, diện tích đất nông nghiệp bình quân trên mỗi hộ cũng cho thấy sự chênh lệch rõ rệt, từ 0,5 ha tại Vĩnh Long (Trà Vinh cũ) lên đến 2,5 ha tại Sơn La, với mức trung bình là 1,3 ha, phản ánh sự khác biệt về điều kiện tự nhiên và cơ cấu sử dụng đất. Điều này ngụ ý rằng các chiến lược phát triển nông nghiệp cần được điều chỉnh phù hợp với đặc thù thổ nhưỡng và quy mô sản xuất của từng địa phương. Vốn đầu tư bình quân cho sản xuất cũng thể hiện sự khác biệt đáng kể, với Lâm Đồng (Đắk Nông cũ) dẫn đầu 545,6 triệu đồng, trong khi Tuyên Quang (Hà Giang cũ) thấp nhất với 385,3 triệu đồng, phản ánh mức độ thâm canh và quy mô đầu tư khác nhau vào sản xuất nông nghiệp giữa các tỉnh.

Bảng 3.2: Quy mô lao động, đất đai và vốn đầu tư cho sản xuất nông nghiệp của các hộ khảo sát

Địa phương

ĐVT

Tuyên Quang (Hà Giang cũ)

Vĩnh Long (Trà Vinh cũ)

Lâm Đồng (Đắk Nông cũ)

Sơn La

Trung bình

Tổng số hộ khảo sát

 

90

90

90

90

90

Số lao BQ động/hộ

Người

2,8

2,0

2,5

2,6

2,4

Diện tích đất BQ/hộ

ha

1,5

1,2

1,8

3,1

2,3

Diện tích đất NN BQ/hộ

ha

1,2

0,5

1,1

2,5

1,3

Vốn đầu tư cho SX/hộ

Tr.đồng

385,3

498,2

545,6

390,0

454,8

Nguồn: Số liệu điều tra (2025)

Phân tích số liệu điều tra cho thấy sự khác biệt rất lớn về tiềm lực sản xuất giữa các vùng, thể hiện rõ qua cả nguồn lực con người và vật chất. Trong khi Tuyên Quang (Hà Giang cũ) có ưu thế về lao động (2,8 người/hộ) và mức độ chuyên môn hóa nông nghiệp cao nhất (90% lao động nông nghiệp), thì nguồn vốn đầu tư lại thấp nhất (385,3 triệu đồng). Ngược lại, Lâm Đồng (Đắk Nông cũ) dẫn đầu về vốn đầu tư (545,6 triệu đồng/hộ), cao hơn gần 42% so với Tuyên Quang (Hà Giang cũ), phản ánh quy mô thâm canh các cây công nghiệp giá trị cao. Về đất đai, Sơn La sở hữu lợi thế vượt trội với diện tích đất nông nghiệp bình quân/hộ đạt 2,5 ha, cao gần gấp đôi mức trung bình (1,3 ha), trong khi Vĩnh Long (Trà Vinh cũ) là địa phương có quy mô đất đai hạn chế nhất (0,5 ha/hộ). Những chênh lệch này cho thấy tiềm năng và quy mô sản xuất không đồng đều, đòi hỏi các chiến lược sản xuất và tiêu thụ cần được thiết kế phù hợp với đặc thù của từng địa phương.

3.2. Đánh giá thực hiện giải pháp đã áp dụng trong tiêu thụ và bán hàng các sản phẩm của các hộ khảo sát

3.2.1 Đánh giá thực hiện giải pháp của các hộ tại tỉnh Tuyên Quang (Hà Giang cũ)

Kết quả tại Bảng 3.3 cho thấy các hộ nông dân ở tỉnh Tuyên Quang đã triển khai nhiều giải pháp nhằm thúc đẩy tiêu thụ nông sản, tuy nhiên mức độ thực hiện có sự khác biệt rõ rệt giữa các nhóm giải pháp. Nổi bật nhất là giải pháp liên kết tiêu thụ sản phẩm với điểm trung bình cao (khoảng 4,0–4,4), cho thấy nông hộ đã chú trọng thiết lập đầu ra ổn định. Bên cạnh đó, ứng dụng công nghệ số cũng đạt mức khá cao (3,9–4,3), phản ánh xu hướng chuyển đổi số bước đầu trong sản xuất và tiêu thụ. Ngược lại, thương mại điện tử có mức điểm thấp nhất (2,0–3,2), cho thấy việc tiếp cận kênh bán hàng trực tuyến còn hạn chế. Giải pháp đa dạng hóa kênh bán chỉ đạt mức trung bình (2,8–3,6), thể hiện sự phụ thuộc nhất định vào kênh truyền thống. Việc tham gia hợp tác xã/tổ hợp tác đạt mức trung bình khá (3,1–4,2), song chưa đồng đều giữa các ngành hàng. Các hoạt động marketing như bao gói, mẫu mã và quảng bá thương hiệu nhìn chung mới ở mức trung bình (khoảng 2,8–3,9). Điều này cho thấy năng lực phát triển thị trường của hộ nông dân còn hạn chế. Nhìn chung, các giải pháp mang tính liên kết và công nghệ có hiệu quả cao hơn so với các hoạt động marketing truyền thống.

Bảng 3.3: Đánh giá thực hiện giải pháp tiêu thụ và bán hàng các sản phẩm nông nghiệp của hộ ở tỉnh Tuyên Quang (Hà Giang cũ)

TT


Chỉ tiêu

Điểm trung bình

Trồng trọt

Chăn nuôi

Thủy sản

Cây ăn quả

Chè

Mật ong

Cá tầm

1

Liên kết tiêu thụ sản phẩm

4,2

4,3

4,0

4,4

4,3

2

Tham gia vào hợp tác xã/tổ hợp tác

3,3

3,8

3,1

4,2

3,8

3

Ứng dụng thương mại điện tử

2,0

2,5

2,3

3,2

2,5

4

Ứng dụng công nghệ số

4,0

3,9

3,4

4,3

3,9

5

Đa dạng hóa kênh bán hàng

2,8

3,6

3,3

2,9

3,6

Các hoạt động khác

 

 

 

 

 

6

Tăng cường bao gói sản phẩm

3,0

3,9

-

3,8

3,9

7

Chú trọng phát triển mẫu mã

2,8

3,5

-

3.7

3,5

8

Quảng bá thương hiệu sản phẩm

3,1

3,7

2,9

3,5

3,7

Ghi chú: Thang đo Likert 5 cấp (1 = “rất không đồng ý”  đến 5 = “Rất đồng ý”)

Nguồn: số liệu điều tra, 2025

3.2.2 Đánh giá thực hiện giải pháp của các hộ tại tỉnh Sơn La

Bảng 2.18 phản ánh mức độ thực hiện các giải pháp tiêu thụ và bán hàng nông sản của các hộ tại Sơn La, cho thấy sự khác biệt đáng kể giữa nhóm hộ trồng trọt và nhóm hộ chăn nuôi. Nhìn chung, các hộ trồng trọt – đặc biệt là đối với rau củ và cây ăn quả – có mức đánh giá cao hơn hẳn so với các hộ chăn nuôi, thể hiện qua việc chủ động tận dụng cơ hội bán hàng với mức điểm 4,5 điểm cho cả hai loại sản phẩm. Điều này phù hợp với điều kiện thực tế khi rau củ và trái cây của Sơn La có thị trường lớn, dễ tiêu thụ và thường được kết nối với hệ thống siêu thị, chợ đầu mối và các hội chợ nông sản. Ngược lại, nhóm hộ chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi lợn, thể hiện mức chủ động thấp hơn đáng kể với chỉ 2,6 điểm, phản ánh sự phụ thuộc lớn vào thương lái và sự thiếu linh hoạt trong tiếp cận thị trường. Năng lực quảng bá thương hiệu cũng có sự chênh lệch tương tự khi nhóm trồng trọt đạt từ 3,2 đến 3,9 điểm, trong khi nhóm chăn nuôi chỉ đạt từ 1,9 đến 2,8 điểm. Điều này cho thấy các sản phẩm chăn nuôi ít được chú trọng đến bao gói, nhận diện và marketing, vốn là những yếu tố ngày càng quan trọng trong thương mại nông sản.

Kết quả tại Bảng 3.4 cho thấy mức độ thực hiện các giải pháp tiêu thụ nông sản của hộ nông dân tỉnh Sơn La có sự phân hóa rõ giữa các nhóm giải pháp và ngành hàng. Nổi bật nhất là giải pháp liên kết tiêu thụ sản phẩm và ứng dụng công nghệ số, với điểm trung bình cao ở lĩnh vực trồng trọt (đạt khoảng 4,5), cho thấy nông hộ đã chủ động hơn trong việc gắn với thị trường và tiếp cận công nghệ. Tuy nhiên, ở lĩnh vực chăn nuôi, các chỉ số này thấp hơn đáng kể (chỉ khoảng 2,6–3,9), phản ánh sự chênh lệch trong mức độ phát triển giữa các ngành. Việc tham gia hợp tác xã/tổ hợp tác đạt mức trung bình khá (2,5–3,9), song chưa thực sự đồng đều. Đáng chú ý, ứng dụng thương mại điện tử vẫn ở mức thấp (2,4–2,8), cho thấy kênh bán hàng trực tuyến chưa được khai thác hiệu quả. Giải pháp đa dạng hóa kênh bán hàng cũng chỉ đạt mức trung bình, đặc biệt thấp ở chăn nuôi (1,9–2,5), phản ánh sự phụ thuộc vào kênh truyền thống. Các hoạt động marketing như bao gói, mẫu mã có cải thiện trong trồng trọt nhưng chưa phổ biến ở chăn nuôi. Hoạt động quảng bá thương hiệu đạt mức thấp (khoảng 2,3–2,5), cho thấy năng lực xây dựng thương hiệu còn hạn chế. Nhìn chung, các giải pháp liên kết và công nghệ có mức độ thực hiện cao hơn, trong khi các giải pháp thị trường hiện đại và marketing còn yếu. Điều này cho thấy cần tăng cường hỗ trợ toàn diện để nâng cao hiệu quả tiêu thụ nông sản tại địa phương.

Bảng 3.4: Đánh giá thực hiện giải pháp tiêu thụ và bán hàng các sản phẩm nông nghiệp của hộ ở tỉnh Sơn La

TT

Chỉ tiêu

Điểm trung bình

Trồng trọt

Chăn nuôi

Rau củ

Cây ăn quả

Lợn

1

Liên kết tiêu thụ sản phẩm

4,5

4,5

2,6

3,0

2

Tham gia vào hợp tác xã/tổ hợp tác

3,9

3,5

2,5

2,8

3

Ứng dụng thương mại điện tử

2,8

2,5

2,4

2,5

4

Ứng dụng công nghệ số

4,5

3,9

2,9

3,9

5

Đa dạng hóa kênh bán hàng

3,5

3,0

1,9

2,5

Các hoạt động khác

 

 

 

 

6

Tăng cường bao gói sản phẩm

3,2

3,0

-

-

7

Chú trọng phát triển mẫu mã

3,8

3,5

-

-

8

Quảng bá thương hiệu sản phẩm

2,5

2,3

2,4

2,5

Ghi chú: Thang đo Likert 5 cấp (1 = “rất không đồng ý”  đến 5 = “Rất đồng ý”)

Nguồn: Số liệu điều tra, 2025

3.2.3. Đánh giá thực hiện giải pháp của các hộ tại tỉnh Lâm Đồng (Đắk Nông cũ)

Kết quả tại Bảng 3.5 cho thấy mức độ thực hiện các giải pháp tiêu thụ nông sản của hộ nông dân tỉnh Lâm Đồng nhìn chung cao và đồng đều hơn so với các địa phương khác. Nổi bật là giải pháp liên kết tiêu thụ sản phẩm đạt điểm cao ở hầu hết các ngành hàng (khoảng 4,0–4,5), cho thấy nông hộ đã chủ động gắn kết với thị trường và doanh nghiệp. Ứng dụng công nghệ số cũng được đánh giá cao (3,2–4,6), đặc biệt trong các ngành trồng trọt như cà phê, phản ánh mức độ tiếp cận công nghệ tốt hơn. Bên cạnh đó, đa dạng hóa kênh bán hàng đạt mức khá (3,3–4,0), cho thấy nông dân đã linh hoạt hơn trong lựa chọn đầu ra. Tuy nhiên, thương mại điện tử vẫn ở mức trung bình (2,3–3,8), cho thấy chưa được khai thác đầy đủ. Việc tham gia hợp tác xã/tổ hợp tác đạt mức khá (2,8–4,2), góp phần hỗ trợ tiêu thụ nhưng chưa đồng đều giữa các ngành. Các hoạt động marketing như bao gói, mẫu mã và quảng bá thương hiệu chủ yếu ở mức trung bình (khoảng 2,2–3,9). Đáng chú ý, lĩnh vực thủy sản có mức điểm thấp hơn so với trồng trọt và chăn nuôi ở nhiều chỉ tiêu. Nhìn chung, các giải pháp liên kết và công nghệ được triển khai hiệu quả hơn, trong khi các hoạt động thị trường hiện đại vẫn còn dư địa cải thiện. Điều này cho thấy cần tiếp tục nâng cao năng lực marketing và chuyển đổi số để tối ưu hóa tiêu thụ nông sản.

Bảng 3.5: Đánh giá thực hiện giải pháp tiêu thụ và bán hàng các sản phẩm nông nghiệp của hộ ở tỉnh Lâm Đồng (Đắk Nông cũ)

Chỉ tiêu

Điểm trung bình

Trồng trọt

Chăn nuôi

Thủy sản

Cà phê

Mắc ca

Sầu riêng

Lợn

1. Liên kết tiêu thụ sản phẩm

4,5

4,3

4,0

4,4

4,3

3,5

2. Tham gia vào hợp tác xã/tổ hợp tác

4,0

3,8

3,1

4,2

3,8

2,8

3. Ứng dụng thương mại điện tử

2,9

3,8

2,3

3,2

2,5

2,5

4. Ứng dụng công nghệ số

4,6

3,6

3,4

4,3

3,9

3,2

5. Đa dạng hóa kênh bán hàng

4,0

4,0

3,6

3,8

3,9

3,3

Các hoạt động khác

 

 

 

 

 

 

6. Tăng cường bao gói sản phẩm

3,8

3,9

3,0

3,7

3,5

2,2

7. Chú trọng phát triển mẫu mã

3,9

3,7

2,9

3,5

3,7

2,6

8. Quảng bá thương hiệu sản phẩm

3,5

3,6

3,3

2,9

3,6

3,0

Ghi chú: Thang đo Likert 5 cấp (1 = “rất không đồng ý”  đến 5 = “Rất đồng ý”)

Nguồn: Số liệu điều tra, 2025

3.2.4 Đánh giá thực hiện giải pháp của hộ tại tỉnh Vĩnh Long (Trà Vinh cũ)

Kết quả tại Bảng 3.6 cho thấy mức độ thực hiện các giải pháp tiêu thụ nông sản của hộ nông dân tỉnh Vĩnh Long tương đối cao và khá đồng đều giữa các ngành. Nổi bật là giải pháp liên kết tiêu thụ sản phẩm đạt điểm cao nhất ở hầu hết các lĩnh vực (khoảng 4,0–4,6), đặc biệt cao ở thủy sản (tôm đạt 4,6), cho thấy vai trò quan trọng của liên kết thị trường. Ứng dụng công nghệ số cũng được đánh giá cao (3,4–4,6), phản ánh mức độ tiếp cận công nghệ ngày càng phổ biến trong sản xuất và tiêu thụ. Việc tham gia hợp tác xã/tổ hợp tác đạt mức khá (3,1–4,4), góp phần hỗ trợ đầu ra nhưng vẫn có sự chênh lệch giữa các ngành. Đa dạng hóa kênh bán hàng trong trồng trọt đạt mức khá cao (khoảng 3,9–4,0), cho thấy sự linh hoạt trong tiêu thụ sản phẩm. Tuy nhiên, thương mại điện tử vẫn ở mức trung bình (2,3–3,8), phản ánh việc ứng dụng kênh bán hàng trực tuyến còn hạn chế. Các hoạt động marketing như bao gói, mẫu mã và quảng bá thương hiệu chủ yếu đạt mức trung bình khá (khoảng 3,2–3,9). Đáng chú ý, các chỉ tiêu trong lĩnh vực chăn nuôi có xu hướng thấp hơn so với trồng trọt và thủy sản. Nhìn chung, các giải pháp liên kết và công nghệ được triển khai hiệu quả hơn so với các hoạt động marketing hiện đại. Điều này cho thấy cần tiếp tục tăng cường năng lực thương mại và chuyển đổi số để nâng cao hiệu quả tiêu thụ nông sản.

Bảng 3.6: Đánh giá thực hiện giải pháp tiêu thụ và bán hàng các sản phẩm nông nghiệp của hộ ở tỉnh Vĩnh Long (Trà Vinh cũ)

TT

Chỉ tiêu

Điểm trung bình

Trồng trọt

Chăn nuôi

Thủy sản

Lúa

Rau nhút

Dừa

Lợn

Tôm

1

Liên kết tiêu thụ sản phẩm

4,5

4,3

4,3

4,4

4,0

4,6

2

Tham gia vào hợp tác xã/tổ hợp tác

4,0

3,8

3,8

4,2

3,1

4,4

3

Ứng dụng thương mại điện tử

2,9

3,8

2,5

3,2

2,3

3,5

4

Ứng dụng công nghệ số

4,6

3,6

3,9

4,3

3,4

4,3

5

Đa dạng hóa kênh bán hàng

4,0

4,0

3,9

-

-

-

Các hoạt động khác

 

 

 

 

 

 

6

Tăng cường bao gói sản phẩm

3,8

3,9

3,5

-

-

-

7

Chú trọng phát triển mẫu mã

3,9

3,7

3,7

3,5

2,9

3,6

8

Quảng bá thương hiệu sản phẩm

3,5

3,6

3,6

2,9

3,3

3,2

Ghi chú: Thang đo Likert 5 cấp (1 = “rất không đồng ý”  đến 5 = “Rất đồng ý”)

Nguồn: Số liệu điều tra, 2025

3.3 Một số giải pháp thúc đẩy bán hàng và tiêu thụ nông sản cho hộ nông dân

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng, một số giải pháp trọng tâm được đề xuất nhằm thúc đẩy bán hàng và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp của hộ trong bối cảnh chuyển đổi số, bao gồm: (i) Tăng cường phát triển liên kết chuỗi giá trị, thúc đẩy hợp đồng tiêu thụ giữa nông dân với doanh nghiệp, đồng thời hoàn thiện cơ chế pháp lý để bảo vệ quyền lợi các bên tham gia; (ii) Nâng cao hiệu quả hoạt động của hợp tác xã, tập trung vào cải thiện năng lực quản trị, minh bạch tài chính và tăng cường vai trò cầu nối thị trường cho nông hộ; (iii) Đẩy mạnh chuyển đổi số trong nông nghiệp, bao gồm đào tạo kỹ năng số cho nông dân, hỗ trợ tiếp cận nền tảng số và phát triển hạ tầng công nghệ tại nông thôn; (iv) Thúc đẩy ứng dụng thương mại điện tử, kết hợp với hỗ trợ logistics, truy xuất nguồn gốc và xây dựng kênh phân phối trực tuyến phù hợp với từng loại nông sản; (v) Khuyến khích nông hộ đa dạng hóa kênh tiêu thụ, kết hợp giữa kênh truyền thống và hiện đại nhằm giảm rủi ro và tối ưu hóa lợi nhuận; và (vi) Tăng cường phát triển hoạt động marketing nông sản, bao gồm cải tiến bao bì, xây dựng thương hiệu và quảng bá sản phẩm, đặc biệt đối với các sản phẩm đặc sản địa phương.

4. Kết luận và kiến nghị

4.1 Kết luận

Thực trạng nghiên cứu các giải pháp thúc đẩy bán hàng và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp đang được các hộ lưu tâm và ứng dụng bao gồm các giải pháp liên kết tiêu thụ sản phẩm (liên kết với doanh nghiệp, hợp đồng bao tiêu), ứng dụng công nghệ số cũng được triển khai ở mức khá cao, đặc biệt tại các vùng phát triển như Lâm Đồng và Vĩnh Long, cho thấy quá trình chuyển đổi số trong nông nghiệp đang diễn ra tích cực. Tuy nhiên, mức độ ứng dụng chưa đồng đều giữa các ngành và địa phương. Các giải pháp như tham gia hợp tác xã/tổ hợp tác và đa dạng hóa kênh bán hàng đạt mức trung bình khá, đóng vai trò hỗ trợ quan trọng nhưng chưa phát huy hết tiềm năng do còn hạn chế về tổ chức và năng lực liên kết. Thương mại điện tử là giải pháp có mức độ thực hiện thấp nhất ở hầu hết các địa phương, phản ánh những rào cản về kỹ năng số, hạ tầng và khả năng tiếp cận thị trường trực tuyến của nông hộ. Các hoạt động marketing sản phẩm (bao gói, mẫu mã, thương hiệu) mới chỉ ở mức trung bình, cho thấy nông dân vẫn chủ yếu tập trung vào sản xuất hơn là phát triển giá trị gia tăng.

4.2. Kiến nghị

Trước hết, đối với Nhà nước và cơ quan quản lý, cần hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển liên kết chuỗi giá trị nông sản, đặc biệt là khuyến khích doanh nghiệp ký kết hợp đồng tiêu thụ ổn định với nông dân. Đồng thời, tăng cường đầu tư hạ tầng số ở khu vực nông thôn, hỗ trợ đào tạo kỹ năng số và thúc đẩy chuyển đổi số trong nông nghiệp. Bên cạnh đó, cần có chính sách hỗ trợ xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường cho các sản phẩm nông sản chủ lực của địa phương.

Đối với chính quyền địa phương, cần đẩy mạnh vai trò kết nối giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp; đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã thông qua đào tạo quản lý, minh bạch tài chính và định hướng thị trường. Ngoài ra, cần hỗ trợ nông dân tiếp cận các kênh tiêu thụ hiện đại như thương mại điện tử, gắn với phát triển hệ thống logistics và truy xuất nguồn gốc sản phẩm.

Đối với doanh nghiệp, cần tăng cường đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, mở rộng liên kết với nông dân thông qua hợp đồng bao tiêu, hỗ trợ kỹ thuật sản xuất và tiêu chuẩn chất lượng. Đồng thời, doanh nghiệp cần đóng vai trò dẫn dắt trong việc xây dựng chuỗi giá trị, phát triển thương hiệu và mở rộng thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước.

Đối với hộ nông dân, cần chủ động tham gia các hình thức liên kết như hợp tác xã, tổ hợp tác và hợp đồng tiêu thụ; đồng thời nâng cao nhận thức về sản xuất theo nhu cầu thị trường. Bên cạnh đó, cần tích cực ứng dụng công nghệ số, đa dạng hóa kênh bán hàng và chú trọng hơn đến hoạt động marketing như bao gói, mẫu mã và xây dựng thương hiệu sản phẩm.

 

Tài liệu tham khảo

Bekele, S., Jon, H., & Geoffrey, M. (2026). Improving market access and agricultural productivity growth in Africa: What role for producer organizations and collective action institutions? https://link.springer.com/article/10.1007/s12571-011-0153-0

Fecke, W., Danne, M., & Musshoff, O. (2018). E-commerce in agriculture – The case of crop protection product purchases in a discrete choice experiment. Computers and Electronics in Agriculture, 151, 126–135. https://doi.org/10.1016/j.compag.2018.05.032

Khong Tien Dung. (2022). Vertical and Horizontal Coordination in Developing Countries’ Agriculture: Evidence from Vietnam and Implications. Asian Journal of Agriculture and Rural Development, 12(1), 40–52. https://doi.org/10.55493/5005.v12i1.4429

Kilima, F. T. M., & Kurwijila, L. R. (2020). Integrating Smallholder Farmers to Commodity Value Chains in Sub-Saharan Africa: Challenges, Prospects and Policy Issues. In B. R. Singh, A. Safalaoh, N. A. Amuri, L. O. Eik, B. K. Sitaula, & R. Lal (Eds.), Climate Impacts on Agricultural and Natural Resource Sustainability in Africa (pp. 407–428). Springer International Publishing. https://doi.org/10.1007/978-3-030-37537-9_24

Kotarba, M. (2018). Digital Transformation of Business Models. Foundations of Management, 10(1), 123–142. https://doi.org/10.2478/fman-2018-0011

Ma, W., Rahut, D. B., Sonobe, T., & Gong, B. (2024). Linking farmers to markets: Barriers, solutions, and policy options. Economic Analysis and Policy, 82, 1102–1112. https://doi.org/10.1016/j.eap.2024.05.005

Morepje, M. T., Sithole, M. Z., Msweli, N. S., & Agholor, A. I. (2024). The Influence of E-Commerce Platforms on Sustainable Agriculture Practices among Smallholder Farmers in Sub-Saharan Africa. Sustainability, 16(15), 6496. https://doi.org/10.3390/su16156496

Onumah, G., Davis, J., Kleih, U., & Proctor, F. (2007, September). Empowering Smallholder Farmers in Markets: Changing agricultural marketing systems and innovative responses by producer organizations [MPRA Paper]. https://mpra.ub.uni-muenchen.de/25984/

Ton, G., Vellema, W., Desiere, S., Weituschat, S., & D’Haese, M. (2018). Contract farming for improving smallholder incomes: What can we learn from effectiveness studies? World Development, 104, 46–64. https://doi.org/10.1016/j.worlddev.2017.11.015

Tran Nguyen Ly. (2021). Value Chain Production Association for Pink Pepper Bananas: Research in Yen Lac District, Vinh Phuc Province, Vietnam. Business and Economic Research, 11(1), 15–38. https://doi.org/10.5296/BER.V11I1.18138

Nhóm nghiên cứu: Thể chế, chính sách và môi trường kinh doanh nông sản và thực phẩm,

Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tác giả liên hệ: dqgiam@vnua.edu.vn